Trang chủ » Tài liệu
Tài liệu

Bài tập 3 (giúp trẻ khiếm thính nghe - nói - hiểu khi mới đeo máy trợ thính hoặc cấy ốc tai điện tử

Mặc dù bạn có thể chơi đùa với bé hàng ngày, nhưng bé sẽ học ngôn ngữ tốt nhất nếu bạn ghép nó với công việc nhà hàng ngày. Bé  cần rất nhiều sự lặp lại của ngôn ngữ trong những hoạt động có ý nghĩa để có thể hiểu được. Bạn có thể cảm thấy không thoải mái khi phải lăp lại mọi thứ hàng trăm lần; thế nhưng, nếu không có hành động này, tốc độ học của con bạn sẽ trở nên chậm hơn. Nói, nói, nói, nói cả ngày, nói  mỗi ngày, và tiếp tục nói thêm nữa....

 

Kế hoạch bài học 3

Các kĩ năng

Hoạt động

1. Nghe:

- Phát hiện ra 6 âm cơ bản (6 Ling) ở các khoảng cách khác nhau.

- Bắt đầu kết hợp đồ vật với âm cơ bản a, u, i, m, s, x

- Đeo thiết bị trợ giúp nghe suốt thời gian thức

- Phát hiện ra khi thiết bị không hoạt động

9) nghe thả 6 Ling (auimxs)

10)  trò chơi : gắn đồ vật - các âm Ling- tranh

(a: vòng tròn; u: máy bay; i: con ong; m: ừm ngon quá!; S: suỵt đi ngủ; x: xi búp bê tè)

11) Quan sát và ghi lại các biểu hiện của bé khi đeo thiết bị nghe và khi máy không hoạt động

ngừng lại, khó chịu, đưa tay lên máy

2. Hiểu:

- Bắt đầu học những cụm từ thông thường hàng ngày có kèm theo âm thanh ban đầu

- Bắt đầu nhận biết những công việc hàng ngày dựa trên thông tin của âm thanh ban đầu

12) Trò chơi lặp lại các cụm từ quen thuộc kèm theo âm thanh học lắng nghe (ngủ - khò khò, ăn – măm măm, gõ cửa – cốc cốc cốc...)

 

 

3. Nói:

 

- Phát âm theo yêu cầu: bắt chước các âm thanh học lắng nghe (ù ù, iii, meomeo, gâu gâu…)

13) Tạo ra các âm và phát âm theo yêu cầu

 

 

- chơi với máy bay, con ong

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Một số gợi ý tổ chức hoạt động bài 3

 

9) Nghe  thả 6 Ling (auimxs):

 - Khi bé còn nhỏ, những biểu hiện của bé khi nghe thấy âm thanh thường là: cử động tay và chân hoặc bỗng dưng nằm yên; thay đổi hướng nhìn trên khuôn mặt trẻ; Tự phát ra âm thanh; Mỉm cười hay cười lớn; Tỏ ra ngạc nhiên, mở to mắt, hay chớp mắt; Giật mình; Nghiêng đầu để nghe hay quay về phía có âm thanh. Chúng ta chỉ cần quan sát thấy một trong những biểu hiện trên thì đoán được là bé có nghe thấy âm thanh hay không.

- Tuy nhiên, khi bé khoảng 2 tuổi, chúng ta cần tập cho bé mỗi khi nghe thấy người lớn phát ra bất kì một trong 6 âm a, u, i, m, s, x  bé sẽ phải thả vật xuống hoặc xếp hình để thể hiện rằng mình đã nghe thấy.

- Cách luyện tập như sau: mẹ để một vật lên tai thể hiện đang lắng nghe, bố phát ra một trong 6 âm trên (a chẳng hạn), mẹ nói: “ồ, mẹ nghe thấy bố nói a” và bỏ vật vào trong hộp; Đổi vai chơi: bố đặt vật lên tai, mẹ phát ra âm u, bố nói :” bố nghe thấy mẹ nói u” và bố lại bỏ vật vào hộp; Đến lượt bé nghe, mẹ phát âm…cứ như vậy, hãy luyện tập mỗi ngày cho bé (nghe thấy bố hoặc mẹ phát ra 1 trong các âm trên thì thả vật xuống).

- Khi bé phản ứng tốt, hãy tăng dần khoảng cách (0, 5m, 1m, 1,5m,2m….trên 3m) nhằm tăng dần khả năng nghe xa dần cho bé. Điều này sẽ giúp ích cho bé “học lỏm” sau này.

Nên nhớ: việc luyện tập cho bé nghe thấy thả vật xuống sẽ rất có ích cho việc kiểm tra xem máy có hoạt động không và bé có nghe thấy những gì chúng ta nói không. Tiến tới, khi bé thành thạo trong việc nghe thả khi nghe thấy 6 âm trên chúng ta sẽ thực hiện việc kiểm tra này mỗi ngày bởi lẽ: 6 âm cơ bản được sử dụng để kiểm tra xem bé có thể nghe được hết phổ lời nói từ những âm vị thấp nhất tới âm vị cao nhất hay không. Việc bé có thể nghe thấy tất cả 6 âm đồng nghĩa với việc bé có thể nghe thấy tất cả những gì bạn nói. Bạn cũng có thể sử dụng 6 âm cơ bản này để xác định bé có thể nghe thấy bạn nói ở khoảng cách bao xa nữa.

10) Gắn đồ vật với 6 âm cơ bản

- Việc bé nghe thấy âm thanh khác với việc bé nghe thấy âm thanh gì.

- Nghe thả chỉ chứng tỏ rằng bé nghe thấy (nghe thấy thì thả xuống), dần dần chúng ta cũng cần phải luyện thêm cho bé biết rằng những âm bé nghe thấy khác nhau; ví dụ:  âm a khác với âm u. Tuy nhiên, khi  bé còn quá nhỏ, bé không thể nói cho ta biết được rằng âm bé vừa nghe được là âm a chứ không phải âm nào khác, chính vì vậy, cần phải luyện tập cho bé cách thể hiện âm mà mình nghe thấy thông qua việc gắn đồ vật với 6 âm cơ bản trên, Ví dụ có thể gắn như sau:

a) âm a: chơi với chiếc vòng bằng cách nói aaaa vào chiếc vòng

b) âm u: Chơi với máy bay

c) âm i: chơi với con ong

d) âm m: chơi trò chơi ăn món ăn “ừm” “ngon quá!”

e) âm s: chơi trò “trời tối trời sáng” (“suỵt!” “trời tối rồi! Ngủ thôi”; “trời sáng rồi!” “ò ó o o...” “dậy thôi”)

g) âm x: chơi trò chơi chơi “cho bé đi tè” (xi xi xi)  hoặc hình ảnh con rắn

- Cách luyện:  mỗi khi phát ra âm a, mẹ đưa chiếc vòng ra trước miệng. Khi phát ra âm u mẹ cầm máy bay lên chơi....Cứ chơi như vậy cho đến khi mẹ phát ra âm a mà bé cầm lấy chiếc vòng đưa lên miệng, khi mẹ phát ra âm u mà bé cầm máy bay lên thì ta hiểu rằng bé đã nghe được âm a khác với âm u rồi đấy.

- Ngoài cách trên, với những bé lớn hơn (khoảng 3 tuổi), ta có thể thay các đồ chơi trên bằng 6 tranh tương  ứng (vòng, máy bay, con ong bay, ăn kem, em bé ngủ, con rắn

- Đối với những bé lớn hơn (bé có thể nhắc lại âm a khi nghe mẹ nói a hoặc nhắc lại u khi nghe mẹ nói u thì không cần phải chơi trò chơi gắn 6 âm với những đồ vật như trên) chỉ cần tập cho bé nghe thấy âm nào thì nhắc lại đúng âm đó là được. Nếu bé thường xuyên nghe và nhắc lại đúng 6 âm trên  nhưng có một hôm nào đó bé thường nhắc lại sai (ví dụ: âm a nhưng bé thường nhắc lại âm u) thi chúng ta cần đưa bé đi kiểm tra lại máy.

11) Quan sát và ghi lại các biểu hiện của bé khi đeo thiết bị nghe và khi máy không hoạt động:

- Nếu khi máy không hoạt động bé có biểu hiện khó chịu thì đó lại là điều đáng mừng vì điều đó chứng tỏ rằng bé rất thích nghe.

- Còn nếu bé tỏ vẻ khó chịu khi đeo máy mà máy vẫn đang hoạt động tốt thì chúng ta nên đưa bé đến các nhà thính học để kiểm tra xem (có thể máy để to quá khiến bé khó chịu hoặc máy để nhỏ quá khiến bé khó nghe nên cũng khó chịu).

12)  Bắt đầu học những cụm từ thông thường hàng ngày có kèm theo âm thanh ban đầu:

Mặc dù bạn có thể chơi đùa với bé hàng ngày, nhưng bé sẽ học ngôn ngữ tốt nhất nếu bạn ghép nó với công việc nhà hàng ngày. Bé  cần rất nhiều sự lặp lại của ngôn ngữ trong những hoạt động có ý nghĩa để có thể hiểu được. Bạn có thể cảm thấy không thoải mái khi phải lăp lại mọi thứ hàng trăm lần; thế nhưng, nếu không có hành động này, tốc độ học của con bạn sẽ trở nên chậm hơn. Nói, nói, nói, nói cả ngày, nói  mỗi ngày, và tiếp tục nói thêm nữa.

- Chụp hình bé đang thực hiện các hoạt động hàng ngày: ăn (mămmăm), uống (ực ực), chơi, đọc sách, đánh răng, lên xe, rửa tay, leo cầu trượt, khóc (huhu), ngủ (à ơi), chào (baibai), xì mũi, … Rửa ảnh chụp và dán lên bìa cứng để có thể sử dụng chúng mỗi ngày. Trẻ em thích tự nhìn bản thân và đây sẽ là một công cụ dạy học tuyệt vời để cho bạn sử dụng trong vài năm tiếp theo.

- Cho bé xem bức hình. Lặp lại cụm từ cùng với các âm thanh học lắng nghe; ví dụ: “Rửa, rửa, rửa tay của con”, “ngủ khò nhé! Khò khò” mỗi khi bạn nhìn vào bức hình.

Ghi nhớ:  các âm thanh học lắng nghe khiến cho bé  nghe dễ hơn là các từ thực sự. Bởi vì chúng ta thêm các phân đoạn vào các âm thanh học lắng nghe và khiến cho chúng dài hơn, khiến chúng nghe du dương hơn.

13) Phát âm theo yêu cầu

Phát âm theo yêu cầu sẽ  khác với việc để cho bé tự phát ra âm thanh. Bây giờ bạn sẽ chờ đợi bé bắt chước bằng cách nắm giữ đồ vật tới khi bé bắt chước. Điều này là cần thiết để đảm bảo bé lắng nghe và bắt chước hợp lí những gì bé đã nghe, bé càng làm nhiều, sự bắt chước của bé sẽ càng chính xác từ mà bé nghe thấy hơn là để bé tự phát ra âm thanh.

- Cách tiến hành: Chơi với máy bay và con ong. Bỏ khoảng mười chiếc máy bay và con ong vào trong túi; khi chơi, bạn cần đưa ra các âm thanh  đặc trưng cho vật (iiii cho con ong và ù ù ù cho máy bay) kết hợp với đồ vật bạn sẽ lấy ra từ trong túi (con ong/máy bay). Bé sẽ bắt đầu lắng nghe sự khác biệt giữa tiếng /uuu/ của máy bay và /iii/của con ong. Chờ cho bé bắt chước âm thanh bé đã nghe.

- Nếu bé không bắt chước một cách tự phát, sử dụng một trong những gợi ý:  đưa  đồ chơi con ong trước miệng bạn và tạo ra âm thanh (iii), tiếp đó giữ con ong trước miệng bé để gợi ý tới lượt bé nói; cũng có thể chỉ vào bé ngụ ý tới lượt bé nói (đây là kĩ thuật được dùng để gợi ý đến lượt một người nào đó nói).

 

Nhật kí tai bé nhỏ của bé (Tuần 3)

(Phần dành cho gia đình ghi chép)

 

1)    Các phản ứng của con bạn tạo ấn tượng với bạn trong suốt tuần qua

2)    Bé phản ứng như thế nào khi bạn bật thiết bị lên? Quan sát và đánh dấu vào những ý sau:

-         Không có sự thay đổi nào:

-         Bé bắt đầu sử dụng giọng nói riêng của mình và tạo ra âm thanh

-         Sau khoảng nửa giờ, bé bắt đầu tạo ra nhiều âm thanh nữa

-         Bé có vẻ chú ý nhiều hơn

 3)    Làm thế nào con của bạn làm cho bạn hiểu những gì bé muốn?

Ví dụ; Khi bé muốn có cái gì hoặc khi bé muốn chơi một trò chơi nào đó bé sẽ làm gì để bạn hiểu điều đó

 4)    Con của bạn có thể hiện ánh mắt khi bạn trò chuyện với bé không?

Bạn có biết?

Lời nói là một hệ thống phức tạp và linh hoạt; Các âm vị kết hợp với nhau tạo thành tiếng, các tiếng kết hợp với nhau tạo thành từ, cụm từ, câu; Các câu kết hợp nhau tạo thành bài đối thoại. Để thực hiện việc này, trước hết chúng ta cần phải được nghe lời nói xung quanh (dò tìm lời nói); phải được học để hiểu (hiểu lời nói) và sau đó mới là tạo ra các từ đầu tiên (tạo ra lời nói).

          Trẻ em có thể nhận ra rất nhanh lời nói không chỉ là một chuỗi âm thanh mà còn là một công cụ có ý nghĩa để giao tiếp với những người khác. Chúng ta nói chuyện để thông tin cho nhau, để nhận thông tin từ người khác và để thiết lập các mối quan hệ xã hội. Một số dấu hiệu giao tiếp đầu tiên là tiếp xúc mắt, bắt chước và cử chỉ điệu bộ. Trò chơi tương tác này giữa bạn và bé là cuộc đối thoại đầu tiên và là nền tảng cho sự phát triển lời nói. Lời nói phát triển một cách tự nhiên trong suốt quá trình tương tác này mỗi ngày với con của bạn. Chúng ta sẽ đề cập nhiều hơn về giao tiếp trong tuần sau.